THUẬN NGHỊCH ĐỘC

Home / Uncategorized / THUẬN NGHỊCH ĐỘC

THUẬN NGHỊCH ĐỘC.
Là thể thơ khi đọc xuôi hay đọc ngược đều có ý nghĩa và hợp vận.
Từ hàng trăm năm nay, rất nhiều người yêu thích lối viết thơ thất ngôn bát cú đường luật thuận nghịch độc (đọc xuôi đọc ngược). Theo TD thì đây là một thể thơ không khó viết, nhưng khó hay. Để viết được thể thơ này, người viết cần nắm được một số đặc điểm kỹ thuật, tóm tắt như sau:
I/ VỀ NIÊM LUẬT:
Hoàn toàn sử dụng bảng luật cơ bản của thơ TNBC, dùng luật bất luận (nhất tam ngũ bất luận).
I.1/ LUẬT BẰNG VẦN BẰNG
Thơ thuận nghịch viết theo luật bằng vần bằng là dễ viết hơn luật trắc, vì theo bảng luật dưới đây, chỉ dùng bất luận, dễ dàng tránh được tất cả các lỗi bệnh khác, nên được nhiều người sử dụng.
B B T T T B B
T T B B T T B
B T T B B T T
T B B T T B B
B B T T B B T
T T B B T T B
B T T B B T T
B B T T T B B
Ví dụ:
TIẾNG XUÂN
(Thuận nghịch độc)
Mai vàng sắc điểm phố vào xuân
Suối nhạc hòa ca tiếng dịu ngần
Cài lụa tóc mây tha thướt xỏa
Vọng đàn âm biển dặt dìu ngân
Ai hò hẹn khúc trao tình mộng
Cảnh xuyến xao thơ gửi thế trần
Dài ngắn sợi tơ khoe thắm liễu
Khai mùa hội mới nắng đầy sân
Sân đầy nắng mới hội mùa khai
Liễu thắm khoe tơ sợi ngắn dài
Trần thế gửi thơ xao xuyến cảnh
Mộng tình trao khúc hẹn hò ai
Ngân dìu dặt biển âm đàn vọng
Xỏa thướt tha mây tóc lụa cài
Ngần dịu tiếng ca hòa nhạc suối
Xuân vào phố điểm sắc vàng mai
Thiet Duong _17/5/2016
__________
I.2/ LUẬT TRẮC VẦN BẰNG
Khó viết hơn luật bằng một chút, vì câu đầu và câu cuối không thể tránh lỗi bệnh:
B T B B T T B
T B B T T B B
B B T T B B T
T T B B T T B
B T T B B T T
T B B T T B B
B B T T B B T
B T B B T T B
-> Ta thấy, theo bảng luật trên thì câu 1 và câu 8 (2 câu này niêm luật như nhau) đã bị lỗi khổ độc ở 1 chiều đọc, VD: Xa cách xuân buồn vọng lứa đôi -> Đôi lứa VỌNG buồn xuân cách xa => từ “VỌNG” bị lỗi khổ độc ở chiều đọc ngược.
– Có thể tránh được lỗi khổ độc này, nếu câu này viết theo luật sau:
B T B B B T B, Ví dụ: Đôi lứa sầu buồn xuân cách xa -> Xa cách xuân buồn sầu lứa đôi => Cách viết này, tuy tránh được lỗi khổ độc, nhưng lại mất cân bằng về BẰNG TRẮC trong câu. 7 từ chỉ có 2 từ trắc (tỷ lệ bằng trắc trong câu phải là 3/4 hoặc 4/3). Như vậy, phạm lỗi bàng thanh.
– Tùy theo người viết có thể chọn cách viết nào, chấp nhận lỗi nào.
– Với TD, sẽ chọn chấp nhận lỗi khổ độc ở 1 chiều. Có người cho rằng, lỗi khổ độc là lỗi nặng, buộc phải tránh => Đúng là như vậy, Nhưng trong trường hợp này, tuy bị lỗi khổ độc (còn gọi là LỖI KHÓ ĐỌC), nhưng câu thơ vẫn dễ đọc hơn là chấp nhận lỗi bàng thanh => Do từ thứ 3 phạm khổ độc, nhưng từ thứ nhất trong câu đã dùng bất luận, chuyển từ trắc sang bằng: câu thơ vẫn rất êm, dễ đọc -> lỗi khổ độc xem như đã được hóa giải.
– Nhưng phải tuyệt đối tránh để cả 2 chiều đều phạm lỗi khổ độc (nhiều người hay phạm) -> khiến cho câu thơ thực sự khó đọc, ví dụ: Đôi lứa VỌNG buồn MỘNG cách xa -> Xa cách mộng buồn VỌNG lứa đôi. => Cả 2 chiều đọc đều có từ bị khổ độc.
Ví dụ:
LỠ MỘT CUNG ĐÀN
(Thuận nghịch độc)
Xa cách xuân buồn vọng lứa đôi
Nhớ nhung người mãi biệt ly rồi
Ga ngơ ngẩn dỗi tầu rời bánh
Cảnh hắt hiu sầu nhạn mất ngôi
Thà chẳng biết thơ hờn nhạc hỡi
Để hoài ngân khúc dối đời thôi
Và em trả mộng bài dang dở
Ca tiếng vụng đàn cung lỡ ôi.
Ôi lỡ cung đàn vụng tiếng ca
Dở dang bài mộng trả em và
Thôi đời dối khúc ngân hoài để
Hỡi nhạc hờn thơ biết chẳng thà
Ngôi mất nhạn sầu hiu hắt cảnh
Bánh dời tầu dỗi ngẩn ngơ ga
Rồi ly biệt mãi người nhung nhớ
Đôi lứa vọng buồn xuân cách xa
Thiet Duong _17/5/2016
__________
II/ TỪ VÀ VỊ TRÍ CỦA TỪ TRONG CÂU:
Ta cần lưu ý một số cách sử dụng từ trong 1 câu như sau:
– Từ giữa câu: Phải là từ sao cho, phù hợp, hiệp ý với cả 2 vế (3 từ đầu câu và 3 từ cuối câu). Ví dụ câu:
Sân đầy nắng MỚI hội mùa khai -> Đọc từ đầu câu: “Sân đầy nắng MỚI …”,. Hoặc đọc từ cuối câu lại: “Khai mùa hội MỚI …”, đều tròn ý.
– 3 từ đầu câu và 3 từ cuối câu đều phải là các cụm từ có thể đọc xuôi đọc ngược mà vẫn êm thuận, tròn ý: sân đầy nắng -> nắng đầy sân…
– VỊ trí từ láy và từ kép trong câu:
+ Chỉ có thể đặt ở vị trí 3 từ đầu câu hoặc 3 từ cuối câu, ví dụ: Xỏa THƯỚT THA mây tóc lụa cài -> Cài lụa tóc mây THA THƯỚT xỏa.
+ Nếu đặt giữa câu thì 1 chiều đọc sẽ bị lỗi nhịp, ví dụ: Suối âm DÌU DẶT vọng êm ngàn -> Ngàn êm vọng /DẶT DÌU /âm suối => Chiều đọc thuận vẫn đúng nhịp, nhưng chiều đọc ngược đã bị lỗi nhịp.
-> Trong nhiều trường hợp, từ ghép đẳng lập có thể đặt giữa câu, nhưng từ láy thì không thể.
Để một câu thơ có thể đọc xuôi đọc ngược sao cho cả 2 chiều đều êm thuận, tròn ý: Ta cần chọn những cặp từ, cụm từ có thể đọc xuôi, đọc ngược.
III/ CÁCH SỬ DỤNG TỪ TRONG CÂU:
1/ Từ đẳng lập: Là từ ghép mà từng từ khi đứng riêng vẫn đủ ý, nên đều có thể đọc xuôi, đọc ngược. Ta nên lợi dụng yếu tố này, ví dụ: BỜ BẾN, GIÓ MÂY, THÀNH THỊ, HỜN TỦI, NUÓC NON, MƠ MỘNG, CHIẾU CHĂN…
2/ Từ kép: cả 2 từ khi đứng chung mới đủ ý, nên ta phải chọn các từ có thể đọc êm thuận cả 2 chiều, ví dụ: NGỜ ĐÂU, TUỔI TRẺ, KHÁC NÀO, ĐƯA THOI…
3/ Từ láy: Chắc khỏi phải bàn, vai trò của từ láy trong sáng tác thơ ca. Từ láy là một đặc sản mà chỉ duy nhất có trong tiếng Việt ta. Từ Chinh phụ ngâm, truyện Kiều… và các thi nhân nổi tiếng đều có những biệt tài, những phong cách riêng dụng từ láy vào tác phẩm.
Vì đặc điểm của từ láy: khi đứng riêng, 1 trong 2 từ, hoặc cả 2 từ sẽ vô nghĩa, vì vậy ta phải chọn các từ mà cả 2 chiều đọc đều có trong từ điển, hoặc đều êm thuận, được người Việt ta dùng trong câu nói hàng ngày, ví dụ: THA THIẾT, ĐAU ĐỚN, CHAN CHỨA, DẠT DÀO, HỮNG HỜ, THẨN THƠ, NGÀO NGẠT… và các từ láy toàn phần như: XA XA, XINH XINH, CHANG CHANG, ĐĂM ĐĂM, CĂM CĂM, THIU THIU, PHAU PHAU…
Không nên dùng những từ láy khi đọc ngược lại không êm thuận, không có nghĩa như: héo hắt, đượm đà, ngay ngắn, hay ho, say sưa…
(Một số từ láy, chiều đọc nghịch tuy chưa cập nhật vào các bộ từ điển, nhưng đọc êm thuận, đc dân ta sử dụng hàng ngày, thậm chí đã có trong các tác phẩm nổi tiếng, như: XAO XUYẾN, CÔI CÚT, SE SẮT… ) ta có thể sử dụng được.
*/ Ví dụ về các cụm từ có thể đọc xuôi ngược: NẮNG CHANG CHANG, TRẮNG PHAU PHAU, CHÀNG BÊN THIẾP, ÁO CÀI HOA, BẦU RƯỢU NẮM NEM…
*/ Cũng cần hết sức để ý, vì tiếng Việt rất phong phú, đa dạng. Nhiều từ khi đọc ngược lại sẽ cho ý nghĩa khác hẳn, có khi là phản nghĩa. Ví dụ: HỘ SANH -> SANH HỘ, THÂN THẾ-> THẾ THÂN, BỆ HẠ-> HẠ BỆ, SĨ TỬ, TỬ SĨ …
Chúc các bạn vui thơ./.
Thiet Duong _17/5/2016
____________________
* TÀI LIỆU THAM KHẢO .

3 Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *